Tôi đi bắt cào cào

Là con gái nhưng nhiều lúc tôi cũng như con trai, cũng rất mạnh mẽ và ham hố các trò của con trai. Ngày đó, tôi cũng được bố mẹ “thả” cho thoải mái chứ không gò bó hay ép buộc ngay cả việc học và việc chơi gì, chơi với ai. Được cái là tính tôi cũng tự lập và biết suy nghĩ nên tự biết điều chỉnh cái gì đúng cái gì sai từ bé.

Những buổi tối mùa hè, khi cánh đồng đã gặt hết lúa, chỉ còn lại cuống rạ, đó là lúc lũ chúng tôi rủ nhau đi bắt cào cào. Tôi xin mẹ một cái chai thủy tinh để làm cái đựng à không là nhốt cào cào. Một đứa trong đám bạn đi bắt cào cào đã có lốp xe rồi nên tôi và những người còn lại không cần chuẩn bị nữa mà cái việc ấy thì lũ con trai cũng sẽ phải chịu trách nhiệm nên tôi không phải nghĩ nhiều về cái… lốp xe. Đợt đó tôi không nhớ là nhóm gồm những ai nhưng tôi nhớ Điệp là cô bạn rất thân của tôi rủ tôi đi phi vụ này. Mẹ tôi không đồng ý những tôi cứ lèo nhèo cuối cùng cũng được đi. Chúng tôi đi hết cánh đồng đằng sau làng nối dài với cánh đồng của làng bên. Đám con trai chịu trách nhiệm đốt đuốc bằng cái lốp xe cao su để có ánh sáng vừa để nhìn rõ hơn vừa để thu hút lũ cào cào đến. Ngày đó cào cào phải gọi là “la liệt” vì ngày đó nhiều lắm. Có khi chỉ cần vạch một gốc rạ ra, có cả một nắm cào cào đang trú ngụ ở đó. Cào cào ấy đem về rang lên với mỡ với lá chanh thì ôi thôi ngon phải biết. Một cái chai đầy ắp cào cào phải ăn đến mấy ngày mới hết. Ngậy ngậy, bui bùi, thơm thơm, cái món mà không đứa trẻ con nào thời ấy chưa nếm qua. Dù nó không thơm bằng muỗm nướng (con muỗm gần giống cào cào nhưng dài và màu xanh hơn) nhưng món cào cào rang quả là tuyệt tác với tôi ngày đó. Đặc biệt món này mà để nhắm rượu cho những bác thèm rượu thì chắc nó phải liệt vào hàng đặc sản như món phở Hà Nội bây giờ. Mà cũng không hiểu sao ngày đó nhiều người đi bắt lắm mà cào cào vẫn nhiều, còn bây giờ chẳng ai đi bắt nữa mà cũng chẳng tìm thấy con nào, họa hoằn mới thấy vài chú nhảy lách tách từ chòm lúa sang chòm lúa kia vào mùa gặt. Phải chăng do thuốc hóa học nên chúng đang dần biến mất. Tôi tiếc cái thời cào cào nhảy lách tách, đếm không xuể.

Hết cào cào, tôi chuyển sang “chăm” lũ kiến tại gia. Nhà tôi ngày đó có nhiều tổ và đường kiến đỏ. Chúng đốt thì đau và buốt thôi rồi. Chẳng may đi mà không để, giẫm vào tổ chúng mà xem, no đòn với bọn tý hon ấy. Thế nhưng có những ngày rất “dở hơi”, tôi nhìn, ngắm chúng đi ra rồi đi vào. Tôi lấy gạo, bỏ vào giữa đường cho chúng rồi nhìn chúng tha về tổ. Thấy vui kỳ lạ, nhiều khi sợ chúng tha mệt quá, tôi để ngay cửa hang để chúng đỡ phải khuân vác xa. Thương chúng là thế mà chẳng may động vào tổ chúng, chúng không nương tay chút nào. Chúng đốt sưng vù lên nhưng con nào mà đốt tôi, không kịp chạy thì tôi cũng diệt nó. “Nuôi” vừa vui vừa bực và với tôi thì cũng là một đứa rất hiền nhưng cũng lại là một kẻ rất…. ác. Nhưng hi vọng là chúng không oán trách tôi.

Ngoài cái trò “nuôi” kiến, những buổi học về sớm, tôi và lũ bạn đi qua đầm sen, mùa hè mọc dày đặc sen, ai lội xuống đó là mất hút luôn nhưng mùa đông sen tàn thì lại là cái hồ nghịch nước cho lũ trẻ con chúng tôi. Chúng tôi tìm những viên gạch hay những viên ngói mỏng mỏng và nhỏ nhỏ, thi nhau ném xuống nước xem nó nảy được mấy lần. Thậm chí ném để xem tay đứa nào dài hơn, khỏe hơn. Chơi chán, chúng tôi chuyển sang bụi cây dứa dại cạnh đó, bứt những chiếc lá, cứa hết hàng gai hai bên của chúng và vài phút sau đó chúng tôi đã có những những chóng chóng để phồng mồm, trợn má thổi cho nó quay, hết hơi thổi thì chạy đi tìm nơi đầu gió, cứ đứng đó giương tay ra và nhìn nó quay tít thích thú. Ngày đó, chúng tôi trở thành những đại gia chân đất với những cái nhẫn, những chiếc đồng hồ bằng lá dứa đeo đầy tay. Rồi những chiếc “nhẫn cỏ trao nhau”, những vòng nguyệt quế bằng lá dương xỉ quấn vào nhau mà đội lên đầu như thể vừa là quán quân của Chương trình Đường lên đỉnh Olympia.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.