[Series BLLĐ] Bài 5. Việc làm cho người lao động

1. Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm.

2. Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm.

(Điều 9. Việc làm, giải quyết việc làm, Bộ luật lao động 2019)

Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm (Khoản 2, Điều 3 Luật việc làm 2013). Theo quy định của pháp luật về việc làm, việc làm được thừa nhận với hai điều kiện sau:

Một là, việc làm là hoạt động có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này thể hiện rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu chí tạo ra thu nhập của việc làm.

Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Đây có thể coi là điều kiện đủ, chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm, hoặc tạo ra việc làm cho người khác trong khuôn khổ pháp luật, không còn bị phân biệt đối xử cho dù làm việc trong hay ngoài khu vực nhà nước.

Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào hai điều kiện là thu nhập và tính hợp pháp để xác định hoạt động lao động của con người có được thừa nhận là việc làm hay không còn phụ thuộc vào pháp luật của mỗi nước và nó thay đổi theo từng thời kỳ. Bởi trên thực tế, có những hoạt động lao động tuy cũng tạo ra thu nhập, đôi khi còn là thu nhập rất cao, nhưng ở quốc gia này thì được coi là việc làm, ở quốc gia khác lại không được thừa nhận là việc làm. Ví như hoạt động mại dâm ở Việt Nam thì không được thừa nhận là việc làm bởi đó là hoạt động bị pháp luật ngăn cấm, trong khi ở Thái Lan hay Philipines thì lại được thừa nhận là việc làm. Quan niệm về việc làm ở nước ta, một mặt đã tiếp thu có chọn lọc các quan niệm về việc làm của các quốc gia trên thế giới, của ILO, mặt khác đã thể hiện tính khái quát cao đồng thời nêu lên các yếu tố cấu thành việc làm. Như vậy, việc làm là hoạt động không bị pháp luật cấm, luôn gắn liền với người lao động và tạo ra thu nhập cho họ.

Vậy, một câu hỏi đặt ra thế nào là người lao động và họ có các quyền gì?

Một trong các quyền của người lao động, thì quyền được làm việc (right to work) là nhóm quyền cơ bản trong lao động.

Quyền làm việc là yếu tố cơ bản để bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng thời cũng là yếu tố để bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của người lao động. Quyền làm việc được coi là quyền hiến định trong UDHR (Tuyên bố về nhân quyền): “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa việc làm”.

Một câu hỏi đặt ra là quyền có việc làm của người lao động (right to have a job) có phải là quyền làm việc của người lao động không? Câu trả lời là quyền có việc làm của người lao động không đồng nghĩa với quyền làm việc. Nếu như quyền làm việc của người lao động là khái niệm gắn liền với quyền con người, là quyền được tự do lựa chọn việc làm, nơi làm việc…và những thiết chế, thể thức của Nhà nước, của xã hội để quyền làm việc của người lao động được thực thi trên thực tế, thì quyền có việc làm của người lao động được hiểu là mỗi người khi đến tuổi lao động, có sức lao động theo quy định của pháp luật được Người sử dụng lao động ký kết Hợp đồng lao động, được hưởng lương và các chế độ khác dựa vào năng lực, nguyện vọng của cá nhân và nhu cầu của người giao kết Hợp đồng lao động. Như vậy, so với quyền làm việc thì quyền có việc làm của người lao động hẹp hơn. Nhưng, về bản chất quyền có việc làm của người lao động được biểu hiện rõ nét nhất, cụ thể nhất trong quyền làm việc của người lao động. Quyền làm việc của người lao động chỉ có ý nghĩa khi người lao động được bảo đảm quyền có việc làm của mình

Mục đích của quyền có việc làm là nhằm đảm bảo cho người lao động có một cuộc sống thật sự ấm no, hạnh phúc và tạo điều kiện để họ phát triển toàn diện, là sự đảm bảo vững chắc cho quyền làm chủ của người lao động. Để đạt được mục đích đó, các quốc gia phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền có việc làm cho người lao động. Việc tôn trọng bảo vệ quyền có việc làm của người lao động đòi hỏi các quốc gia không được cưỡng bức, từ chối và hạn chế quyền bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội việc làm của người lao động. Trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo vệ quyền có việc làm của người lao động là phải thông qua các biện pháp hoặc các biện pháp hỗ trợ khác nhằm đảm bảo quyền bình đẳng về việc làm, đào tạo nghề cho người lao động. Để bảo đảm quyền có việc làm của người lao động được thực hiện một cách đầy đủ đòi hỏi các quốc gia phải ban hành các chính sách, xây dựng các kế hoạch hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề và đưa ra các biện pháp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy người lao động được hưởng quyền có việc làm.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.