1. Phạm vi điều chỉnh của Luật lao động
Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động (Điều 1 BLLĐ 2019).
Để hiểu rõ phạm vi điều chỉnh này, chúng ta cần phân tích rõ các khái niệm và nội dung như sau:
Trong phạm vi điều chỉnh, Bộ luật lao động quy định:
A. Tiêu chuẩn lao động
Theo định nghĩa của ILO về tiêu chuẩn lao động quốc tế: Tiêu chuẩn lao động quốc tế là các văn bản pháp lý do các đối tác ba bên của ILO (chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động) soạn thảo và thông qua, quy định các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động. Các tiêu chuẩn này có thể tồn tại dưới dạng Công ước – mang tính ràng buộc pháp lý của điều ước quốc tế mà các quốc gia thành viên có thể phê chuẩn, hoặc dưới dạng Khuyến nghị – là những hướng dẫn không mang tính bắt buộc.
Như vậy, có thể hiểu, tiêu chuẩn lao động chính là các văn bản quy phạm quy định về các nguyên tắc, các quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động.
B. Quyền và nghĩa vụ của:
– Người lao động: là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. (Khoản 2 điều 3 BLLĐ 2019)
– Người sử dụng lao động: là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. (Khoản 2 điều 3 BLLĐ 2019)
– Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp (Khoản 3 Điều 3 BLLĐ)
– Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động (Khoản 4 Điều 3 BLLD 2019).
Như vậy, quyền và nghĩa vụ được hiểu như thế nào?
Theo giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của Đại học Luật Hà Nội: quyền và nghĩa vụ là nội dung của quan hệ pháp luật đối với chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó.
* Quyền chủ thể là khả năng của chủ thể được xử sự theo những cách thức nhất định mà pháp luật cho phép. Quyền chủ thể bao gồm:
– Có thể tự thực hiện những hành động nhất định hay còn gọi là tự xử sự. Chủ thể bằng chính hành động của mình tiến hành cách xử sự mà pháp luật quy định nhằm đạt được lợi ích của mình
– Có thể yêu cầu chủ thể bên kia của quan hệ pháp luật phải thực hiện những hành vi nào đó để đáp ứng thực hiện quyền của mình, yêu cầu chủ thể bên kia chấm dứt những hành vi nhất định nếu cho rằng hành vi đó cản trở việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình.
– Có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại.
Như vậy, khi tham gia một quan hệ, chủ thể luôn có đầy đủ 3 quyền trên và có sử dung chúng hay không trên thực tế là tùy vào ý chí của chủ thể.
* Nghĩa vụ chủ thể là cách xử sự mà chủ thể buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác.
Nghĩa vụ pháp lý bao gồm những sự cần thiết phải xử sự:
– Phải tiến hành một số hoạt động nhất định
– Phải kiềm chế không được thực hiện một số hoạt động nhất định
– Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi xử sự không đúng với những quy định của pháp luật
Quyền và nghĩa vụ trong một quan hệ pháp luật luôn có sự đối lưu cho nhau. Quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng đối với bên kia và ngược lại.
Bên cạnh đó, Quan hệ lao động: là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể (Khoản 5 Điều 3 BLLĐ 2019).
Như vậy, Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật lao động 2019, điều chỉnh về quyền (tự mình thực hiện, yêu cầu chủ thể bên kia, yêu cầu cơ quan nhà nước) và nghĩa vụ (phải tiến hành, phải kiềm chế không thực hiện, phải chịu trách nhiệm pháp lý), trách nhiệm (việc phải làm) của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động (thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương) và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.
2. Các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới quan hệ lao động
Các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp tới quan hệ lao động là những quan hệ phát sinh từ quan hệ lao động, gắn liền và có ảnh hưởng trực tiếp đến các quan hệ lao động do luật lao động điều chỉnh. Các quan hệ này gồm:
2.1. Quan hệ bồi thường thiệt hại
Trong thực tế, đa số các quan hệ bồi thường do luật dân sự điều chỉnh, tuy nhiên cũng tồn tại những quan hệ bồi thường trong một số lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của ngành luẩ khác. Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động vì nhiều lý do khác nhau, có thể có sự vi phạm của chủ thể này gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe,.. với chủ thể kia trong quan hệ lao động, khi đó sẽ phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại do luật lao động điều chỉnh. Như vậy, quan hệ bồi thường thiệt hại trong luật lao động là sự bồi thường thiệt hại bằng vật chất khi có sự vi phạm của chủ thể này gây thiệt hại cho chủ thể kia xảy ra trong quá trình lao động và do luật lao động điều chỉnh.
2.2. Quan hệ bảo hiểm trong lĩnh vực lao động
NLĐ trong khi thực hiện quan hệ lao động có thể gặp phải những rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm,.. và khi đó bản thân họ (trong một số trường hợp là thân nhân gia đình họ) có thể gặp những khó khăn và có nhu cầu được bảo vệ thu nhập, bảo vệ việc làm,… Việc bảo vệ cho NLĐ trong những trường hợp nói trên được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có bảo hiểm là hình thức chủ yếu.
Trong thực tế, quan hệ bảo hiểm có tính ràng buộc quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên trong lĩnh vực lao động bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Quan hệ bảo hiểm trong lĩnh vực lao động bao gồm nhiều mối quan hệ hợp thành như: quan hệ thu, nộp bảo hiểm, quan hệ quản lý tài chính bảo hiểm, quan hệ tổ chức bộ máy bảo hiểm… Tuy nhiên, trong phạm vi luật lao động chủ yếu quan tâm đến nghĩa vụ của các chủ thể (nhà nước, NSDLĐ, NLĐ) trong việc hình thành nguồn tài chính bảo hiểm và chi trả, thực hiện khi có sự kiện pháp lý bảo hiểm phát sinh. Vậy, quan hệ bảo hiểm trong lĩnh vực lao động là các quan hệ hình thành trong quá trình đóng góp, tạo lập quỹ và chi trả bảo hiểm và do luật lao động, an sinh xã hội điều chỉnh với tư cách quan hệ liên quan đến quan hệ lao động.
2.3. Quan hệ giải quyết tranh chấp lao động
Mặc dù quan hệ lao động do luật lao động điều chỉnh đuộc thiết lập trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện nhưng vì nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau mà trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, giữa các bên của quan hệ lao động có thể có những bất đồng, tranh chấp về quyền và lợi ích. Mâu thuẫn này nếu không thể tự thương lượng, dàn xếp các bên có quyền đưa vụ tranh chấp đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết làm phát sinh quan hệ giải quyết tranh chấp lao động, đó là mối quan hệ giữa các chủ thể có tranh chấp lao động với các cá nhận, tổ chức có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đó. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất, phạm vi của tranh chấp mà hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhân và trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động có thể khác nhau.
2.4. Quan hệ đình công và giải quyết đình công
Đình công là hiện tượng có tính phổ biến trong thị trường khi có sự xung đột về lợi ích giữa tập thể lao động đối với NSDLĐ mà sau khi đã qua các thủ tục giải quyết theo quy định nhưng các yêu cầu của họ không được NSDLĐ chấp nhận. Khi đó, để đạt được yêu sách của mình tập thể lao động thường sử dụng biện pháp gây sức ép về kinh tế là tiến hành đình công. Như vậy, quan hệ đình công là mối quan hệ giữa các chủ thể của quan hệ lao động trong quá trình đình công.
Trong và sau khi đình công các bên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (tòa án nhân dân cấp tính và tương đương) giải quyết. Do đó, quan hệ giải quyết đình công là quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền giải quyết đình công với tập thể lao động hoặc người đài diện của họ và NSDLĐ trong quá trình giải quyết đình công.
2.5. Quan hệ quản lý nhà nước về lao động
Quan hệ quản lý nhà nước về lao động là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các chủ thể của quan hệ lao động trong lĩnh vực chấp hành, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động. Mục đích của quan hệ này nhằm đảm bảo cho quan hệ lao động được phát triển ổn định, hài hòa nhằm phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các vi phạm đảm bảo quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích chung của xã hội. Luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động này thông qua việc quy định hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nội dung của hoạt động quản lý nhà nước, trình tự, hình thức xử phạt vi phạm pháp luật lao động.


